Xem lời giải và nhận xét
Sau khi để một tay vào nước lạnh và tay kia vào nước ấm, hai tay có thể cảm nhận nước ở nhiệt độ phòng khác nhau. Để kết luận, ta đo bằng nhiệt kế.
Ghi nhớ: Cảm giác không thay thế số đo.
Chương I · Mở đầu về Khoa học tự nhiên · SGK trang 24–27
Phát biểu được nhiệt độ cho biết mức độ nóng, lạnh; nêu đơn vị độ Celsius (°C), biết nhiệt kế là dụng cụ đo nhiệt độ.
Hiểu cảm giác nóng – lạnh không đáng tin cậy để xác định số đo; chọn nhiệt kế theo mục đích, GHĐ, ĐCNN và hướng dẫn của thiết bị.
Thực hiện các bước ước lượng, chọn và kiểm tra nhiệt kế, đo, đọc, ghi kết quả kèm đơn vị; sử dụng nhiệt kế y tế an toàn.
Đọc nhiệt kế có vạch chia, nhận biết số đo không hợp lệ, so sánh nhiệt độ và tổng hợp kết quả đo nhiều lần.
Nhiệt độ là số đo mức độ nóng, lạnh của vật. Khi tiếp xúc hai vật có nhiệt độ khác nhau, cảm giác tay còn phụ thuộc trạng thái trước đó của tay nên không thể thay việc đo bằng nhiệt kế. Nước ở cùng nhiệt độ có thể gây cảm giác khác nhau sau khi các tay vừa ở trong nước nóng và nước lạnh.
Ở Việt Nam, nhiệt độ trong sinh hoạt thường dùng độ Celsius, kí hiệu °C (đọc: độ Xen-xi-út). Nước tinh khiết ở áp suất khí quyển tiêu chuẩn đông đặc gần 0 °C và sôi gần 100 °C; nhiệt độ sôi có thể thay đổi theo áp suất. Không khẳng định mọi chất hay mọi điều kiện có cùng mốc này.
Nhiệt kế là dụng cụ đo nhiệt độ. Loại thông dụng gồm nhiệt kế phòng thí nghiệm (thường có cột chất lỏng), nhiệt kế y tế, nhiệt kế điện tử, nhiệt kế hồng ngoại và nhiệt kế khí tượng. Mỗi loại có khoảng đo, độ phân giải và cách sử dụng riêng; không tùy tiện đổi công dụng.
| Dụng cụ | Dùng cho | Lưu ý |
|---|---|---|
| Nhiệt kế phòng thí nghiệm | Chất lỏng hoặc môi trường phù hợp thang đo | Không dùng đo thân nhiệt; kiểm tra loại chất lỏng, GHĐ |
| Nhiệt kế y tế điện tử | Đo thân nhiệt theo vị trí được hướng dẫn | Chờ thiết bị báo hoàn tất, vệ sinh sau khi dùng |
| Nhiệt kế hồng ngoại | Đo nhiệt độ bề mặt, thân nhiệt (nếu đúng chế độ) | Khoảng cách và điều kiện môi trường theo hướng dẫn |
| Nhiệt kế khí tượng | Nhiệt độ không khí | Chọn vị trí tránh bức xạ Mặt Trời trực tiếp |
Giới hạn đo (GHĐ) là giá trị lớn nhất ghi trên thang đo; độ chia nhỏ nhất (ĐCNN) là hiệu giữa hai giá trị tại hai vạch chia liên tiếp. Đọc mặt thang ngang tầm đỉnh cột chất lỏng, tránh nhìn xiên; không cầm tay vào bầu và không để bầu chạm vật dễ làm sai kết quả. Đối với thiết bị số, đọc số hiển thị và đơn vị theo tài liệu của máy.
Khi đo nhiệt độ không khí hoặc nước ổn định nhiều lần, có thể tính giá trị trung bình từ các số đo để mô tả; không sửa số liệu cho đẹp. Nếu nhiệt độ đang biến đổi theo thời gian, cần ghi thời điểm thay vì coi tất cả lần đo là cùng một nhiệt độ cố định.
Sau khi để một tay vào nước lạnh và tay kia vào nước ấm, hai tay có thể cảm nhận nước ở nhiệt độ phòng khác nhau. Để kết luận, ta đo bằng nhiệt kế.
Ghi nhớ: Cảm giác không thay thế số đo.
Nhiệt kế chỉ 25 °C: đọc là hai mươi lăm độ Celsius. Không đọc thành 25 kg hoặc 25 s.
Ghi nhớ: Ghi số đo kèm °C.
Muốn đo nhiệt độ cơ thể, chọn nhiệt kế y tế hoặc nhiệt kế điện tử có chế độ đo cơ thể; thực hiện theo hướng dẫn thiết bị.
Ghi nhớ: Không dùng nhiệt kế phòng thí nghiệm để đo thân nhiệt.
Nhiệt kế minh họa từ −10 °C đến 110 °C, có 5 khoảng bằng nhau giữa 20 và 30 °C: ĐCNN = (30 − 20)/5 = 2 °C.
Ghi nhớ: GHĐ là mức lớn nhất thể hiện trên thang đo; ĐCNN là chênh lệch giữa hai vạch kế tiếp.
Cột chất lỏng dừng đúng vạch 24 °C trên thang có ĐCNN 2 °C. Ghi 24 °C.
Ghi nhớ: Không tự suy ra đến 0,01 °C từ thang chia 2 °C.
Thang đo có vạch 0,5 °C. Cột chất lỏng trùng vạch giữa 36 và 37 °C, đọc 36,5 °C.
Ghi nhớ: Thang chia và cách xác định mức cột chất lỏng phải thống nhất.
Nhiệt kế A chỉ 19 °C, nhiệt kế B chỉ 27 °C. B cao hơn A: 27 − 19 = 8 °C.
Ghi nhớ: Hiệu nhiệt độ tính theo °C là chênh lệch số đo.
Nhiệt kế đo không khí lạnh chỉ −3 °C. So với 0 °C, nhiệt độ thấp hơn 3 °C.
Ghi nhớ: Dấu âm chỉ nhiệt độ thấp hơn 0 °C, không phải số đo sai.
Cần đo nước có thể nóng khoảng 70 °C: chọn nhiệt kế phòng thí nghiệm có GHĐ ít nhất 70 °C, không chọn loại chỉ đo thân nhiệt.
Ghi nhớ: Tránh dùng nhiệt kế ngoài khoảng đo quy định.
Quan sát ngang mức đỉnh cột chất lỏng và tránh cầm tay vào bầu. Nhìn chéo có thể gây đọc sai vị trí.
Ghi nhớ: Giảm lỗi thị sai.
Kiểm tra nhiệt kế điện tử còn hoạt động, đặt đúng vị trí theo hướng dẫn, đợi tín hiệu hoàn tất rồi đọc, ghi kết quả.
Ghi nhớ: Không suy ra tình trạng sức khỏe chỉ từ một số đo mô phỏng.
Ba số đo minh họa: 24,0 °C; 24,5 °C; 24,0 °C. Trung bình = (24,0 + 24,5 + 24,0)/3 ≈ 24,2 °C khi làm tròn đến 0,1 °C.
Ghi nhớ: Cần nêu số lần đo, dụng cụ và độ phân giải, không bịa thêm chữ số chắc chắn.
Cả ba trạm sử dụng dữ liệu giả lập để học thao tác; không phải dụng cụ đo, không cung cấp kết luận sức khỏe.
Điều chỉnh nhiệt độ mô phỏng và chọn thang chia. Quan sát đỉnh cột chất lỏng; số đọc được quy về vạch chia gần nhất.
Hãy đọc đỉnh cột theo thang chia đã chọn.
Chọn tình huống, chọn dụng cụ và một cách đo. Hệ thống giải thích vì sao phù hợp hoặc cần sửa.
Chọn đúng dụng cụ theo mục đích, khoảng đo và hướng dẫn.
Thay số liệu bằng phép đo thật, hoặc giữ số liệu mẫu minh họa. Nếu nhiệt độ thay đổi, cần ghi thời điểm tương ứng.
Dữ liệu hiện tại là minh họa, chưa phải kết quả đo thực.
Phần A: 6 nhóm × 6 câu tự luyện, có đáp án và giải thích sau khi kiểm tra. Phần B: 8 ABCD, 4 Đúng/Sai bốn ý, 8 trả lời ngắn và 2 tự luận theo rubric. Không dùng số đo mô phỏng để kết luận sức khỏe.
Sáu nhánh hệ thống hóa kiến thức để học sinh lớp 6 ghi nhớ bằng hình ảnh.
Cảm biến nhiệt kế cần thời gian trao đổi nhiệt hoặc nhận tín hiệu để chỉ số ổn định. Đọc quá sớm có thể khác số đo cuối.
Nhiệt kế hồng ngoại ước tính nhiệt độ từ bức xạ hồng ngoại của bề mặt. Kết quả chịu ảnh hưởng khoảng cách, độ phát xạ và điều kiện đo; không đọc được mọi vật như nhau.
Nước tinh khiết sôi gần 100 °C ở áp suất khí quyển tiêu chuẩn. Trên núi cao, áp suất thấp hơn nên nhiệt độ sôi thường thấp hơn.
Nhiệt kế đo không khí, nhiệt kế phòng thí nghiệm và nhiệt kế y tế khác nhau về thang đo, cấu tạo và hướng dẫn. Không có một loại dùng tốt cho mọi phép đo.