Kéo nhẹ hai đầu một lò xo rồi buông tay. Điều gì xảy ra nếu lò xo chưa bị kéo quá mức?
Xem lời giải từng bước
Lò xo dài ra lúc bị kéo; khi ngừng kéo, nó co lại gần chiều dài ban đầu vì còn tính đàn hồi.
Chương VIII · Lực trong đời sống · SGK trang 151–153
Nêu được ví dụ vật có tính đàn hồi; mô tả lò xo dài ra khi bị kéo và trở lại hình dạng ban đầu khi thôi tác dụng lực, nếu chưa vượt giới hạn đàn hồi.
Treo lò xo theo phương thẳng đứng; lần lượt tăng số quả nặng giống nhau, đo chiều dài và ghi kết quả vào bảng.
Tính được độ dãn bằng chiều dài khi có vật treo trừ chiều dài ban đầu; chỉ ra mối liên hệ tỉ lệ thuận giữa độ dãn và khối lượng vật treo trong phạm vi thí nghiệm.
Đọc bảng số liệu, dự đoán độ dãn khi tăng khối lượng, giải thích việc không kéo hoặc treo vật vượt mức cho phép.
Khi dùng tay kéo lò xo xoắn, lò xo dài ra; khi nén, lò xo ngắn lại. Trong điều kiện lò xo còn đàn hồi, ngừng tác dụng lực thì lò xo trở về gần hình dạng, kích thước ban đầu. Hiện tượng đổi hình dạng hoặc kích thước là biến dạng.
Đo chiều dài ban đầu khi chưa có vật treo là l₀. Treo vật, chờ đứng yên, đo chiều dài l từ cùng hai đầu lò xo. Độ dãn bằng phần chiều dài tăng thêm.
Khi giữ nguyên lò xo và treo vật có khối lượng tăng gấp 2, 3,… lần, độ dãn tăng tương ứng gấp 2, 3,… lần nếu lò xo còn trong phạm vi đàn hồi. Đây là kết luận cần kiểm chứng bằng bảng số liệu thực hành.
Sơ đồ minh họa: số vòng xoắn và chiều dài trên hình chỉ mang ý nghĩa trực quan; dùng số đo thí nghiệm để tính độ dãn.
Kéo nhẹ hai đầu một lò xo rồi buông tay. Điều gì xảy ra nếu lò xo chưa bị kéo quá mức?
Lò xo dài ra lúc bị kéo; khi ngừng kéo, nó co lại gần chiều dài ban đầu vì còn tính đàn hồi.
Lò xo chưa treo vật dài 10 cm; treo vật thì dài 12 cm. Tính độ dãn.
Δl = l − l₀ = 12 − 10 = 2 cm.
Mỗi quả nặng 50 g, khi treo 1 quả lò xo dãn 2 cm. Treo 2 quả giống nhau trong giới hạn đàn hồi, độ dãn bằng bao nhiêu?
Khối lượng tăng gấp đôi nên độ dãn cũng tăng gấp đôi: 4 cm.
Treo 1 quả 50 g lò xo dãn 2 cm. Treo 3 quả cùng loại, độ dãn dự đoán?
Khối lượng tăng 3 lần nên Δl = 3 × 2 = 6 cm, nếu lò xo còn đàn hồi.
Chiều dài ban đầu 11 cm; treo 100 g lò xo dãn 3 cm. Tính chiều dài sau treo.
l = l₀ + Δl = 11 + 3 = 14 cm.
Khi treo 50 g, 100 g, 150 g thì độ dãn lần lượt 1,5 cm; 3 cm; 4,5 cm. Có phải tỉ lệ thuận không?
Có: tỉ số Δl/m đều bằng 0,03 cm/g trong phạm vi đo.
Một bạn đo chiều dài lò xo từ móc treo trên giá thay vì từ đầu lò xo. Sai ở đâu?
Cần cố định cùng hai vị trí đầu–cuối của riêng lò xo qua các lần đo, nếu không dữ liệu không đáng tin cậy.
Lò xo dài ban đầu 9 cm; sau khi bỏ 100 g, chiều dài lại là 9 cm. Nhận xét.
Lò xo đã trở về chiều dài ban đầu ở phép thử này, biểu hiện biến dạng đàn hồi.
Có thể lấy dữ liệu một lò xo mảnh và một lò xo cứng trộn chung thành bảng để kết luận không?
Không. Khi khảo sát khối lượng – độ dãn phải giữ nguyên một lò xo và cách treo, chỉ thay đổi khối lượng.
l₀ = 20 cm, các chiều dài tương ứng 20; 21; 22; 23 cm. Độ dãn lần lượt bao nhiêu?
Trừ 20 cm lần lượt được 0; 1; 2; 3 cm.
Dữ liệu đo tới 200 g cho thấy tỉ lệ thuận. Có được khẳng định treo 2 kg cũng tỉ lệ thuận?
Không. Kết luận chỉ áp dụng trong phạm vi đàn hồi đã kiểm chứng, vượt tải có thể làm lò xo biến dạng không hồi phục.
Kể hai dụng cụ hoạt động nhờ biến dạng và phục hồi của lò xo.
Ví dụ: kẹp quần áo, bút bi bấm, đệm lò xo, bộ giảm xóc. Cần nêu đúng vai trò lò xo trong từng dụng cụ.
Dữ liệu là giả lập lí tưởng, dùng để luyện cách đo và nhận xét. Không dùng để xác định giới hạn chịu tải của lò xo thật.
Chọn tổng khối lượng treo, đo chiều dài và độ dãn trên mô hình. Khi vượt 200 g, chương trình không ngoại suy công thức.
Trong mô hình, mỗi quả nặng 50 g làm lò xo dãn 2 cm, chiều dài ban đầu 10 cm. Nhập độ dãn tại hàng được yêu cầu rồi kiểm tra.
| Khối lượng (g) | Chiều dài l (cm) | Độ dãn Δl (cm) |
|---|
Hai lò xo có độ cứng khác nhau (mô phỏng). Giữ nguyên từng lò xo, thay đổi khối lượng, quan sát đồ thị độ dãn theo khối lượng.
Phần A: 6 nhóm × 6 câu có giải thích. Phần B: 8 câu ABCD, 4 câu Đúng/Sai mỗi câu 4 ý, 8 câu trả lời ngắn và 2 câu tự luận theo rubric.
8 câu ABCD × 0,25; 4 câu Đúng/Sai tối đa 1 điểm/câu; 8 câu trả lời ngắn × 0,25; 2 câu tự luận × 1 điểm. Phần tự luận cần giáo viên đánh giá theo rubric.
Sáu nhánh hệ thống hóa hiện tượng, quy trình đo và điều kiện kết luận.
Lò xo biến dạng và hồi phục để giữ lực kẹp hoặc giúp một bộ phận trở về vị trí trước đó.
Một số lực kế hoạt động nhờ biến dạng của lò xo. Vạch chia phải được hiệu chuẩn, không dùng lò xo bất kì làm dụng cụ đo chính xác.
Treo quá nhiều vật có thể làm lò xo bị biến dạng lâu dài hoặc hỏng. Các phép đo ở vùng này không còn tuân theo đường thẳng đã tìm được trước đó.
Đây là tên gọi của lực xuất hiện khi vật đàn hồi bị biến dạng; trong Bài 42 khái niệm này chỉ ở mức tìm hiểu thêm, không yêu cầu học công thức lực đàn hồi.