Búng nhẹ miếng gỗ để nó trượt trên bàn rồi dừng lại. Lực nào giúp nó chậm dần?
Xem lời giải từng bước
Khi miếng gỗ trượt, bàn tác dụng ma sát trượt lên mặt dưới gỗ theo chiều cản sự trượt. Trong tình huống này, ma sát góp phần làm gỗ chậm dần.
Chương VIII · Lực trong đời sống · SGK trang 157–159
Nêu được lực ma sát là lực tiếp xúc, xuất hiện ở bề mặt tiếp xúc giữa hai vật; nhận biết lực ma sát nghỉ và ma sát trượt.
Giải thích vì sao mặt tiếp xúc có thể tạo ma sát; phân biệt tình huống vật đứng yên tương đối với vật đang trượt tại nơi tiếp xúc.
Nêu tác dụng cản trở hoặc giúp chuyển động của ma sát: đẩy thùng, đi bộ, đi xe và phanh xe.
Đề xuất cách tăng/giảm ma sát hợp lí trong sinh hoạt; giải thích rãnh lốp, đường ướt, ổ bi và an toàn khi tham gia giao thông.
Lực ma sát là lực tiếp xúc xuất hiện ở bề mặt tiếp xúc giữa hai vật. Các bề mặt có những chỗ gồ ghề rất nhỏ và có tương tác vật chất nên có thể xuất hiện ma sát. Không phải lúc nào bề mặt nhìn nhẵn cũng không có ma sát.
Xuất hiện khi hai bề mặt không trượt tương đối và có xu hướng trượt. Ví dụ: em đẩy thùng nhưng thùng vẫn đứng yên; đế giày bám đất khi bước đi bình thường.
Xuất hiện khi bề mặt của một vật trượt trên bề mặt vật khác. Ví dụ: khối gỗ trượt trên mặt bàn; tẩy cọ xát trên giấy.
Miếng gỗ đang trượt chậm dần; bản lề bị rít; bánh xe khó quay nếu trục có ma sát lớn. Một số trường hợp cần giảm ma sát bằng bôi trơn hoặc ổ bi.
Ma sát nghỉ giữa đế giày và đất giúp người đi tới; lốp bám mặt đường để xe tăng tốc, chuyển hướng và giảm tốc an toàn. Khi cần bám chắc phải duy trì ma sát phù hợp.
Mở rộng: Ổ bi cho các viên bi lăn giữa những bề mặt, có thể giảm lực cản so với ma sát trượt. Ma sát lăn được nêu như ứng dụng; hai dạng chính SGK yêu cầu phân biệt trong Bài 44 là ma sát nghỉ và ma sát trượt.
Búng nhẹ miếng gỗ để nó trượt trên bàn rồi dừng lại. Lực nào giúp nó chậm dần?
Khi miếng gỗ trượt, bàn tác dụng ma sát trượt lên mặt dưới gỗ theo chiều cản sự trượt. Trong tình huống này, ma sát góp phần làm gỗ chậm dần.
Em đẩy thùng sang phải nhưng thùng đứng yên trên nền. Ma sát nào xuất hiện?
Ma sát nghỉ tại mặt tiếp xúc giữa thùng và nền cản thùng bắt đầu trượt. Lực ma sát nghỉ có thể tăng theo lực đẩy, đến một giới hạn.
Khối gỗ đang trượt từ trái sang phải trên bàn. Hướng ma sát trượt do bàn tác dụng lên gỗ?
Lực ma sát trượt của bàn tác dụng lên gỗ nằm dọc mặt tiếp xúc, hướng từ phải sang trái, ngược chiều trượt tương đối.
Nếu em cố kéo thùng sang trái nhưng thùng chưa trượt, ma sát nghỉ hướng về đâu?
Lực ma sát nghỉ do nền tác dụng lên thùng chống xu hướng trượt sang trái, nên nó hướng sang phải.
Khi đi bộ, bàn chân đạp đất ra phía sau. Mặt đất tác dụng lực ma sát lên bàn chân theo chiều nào?
Trong bước đi không bị trượt, ma sát nghỉ của mặt đất tác dụng lên bàn chân theo chiều về phía trước, giúp cơ thể tiến lên.
Vì sao không nên chạy trên nền gạch ướt?
Nước có thể làm giảm khả năng bám của đế giày lên nền. Khi lực ma sát không đủ giữ chân khỏi trượt, người dễ mất thăng bằng; cần bước chậm, cẩn thận.
Khi bóp phanh xe đạp, ma sát có lợi hay có hại?
Ma sát giữa bộ phận phanh và bánh xe giúp giảm tốc độ quay. Lốp phải đủ bám đường để xe giảm tốc an toàn; ma sát ở đây có ích.
Tại sao lốp ô tô, xe máy có các rãnh?
Các rãnh giúp dẫn nước ra khỏi vùng tiếp xúc trên đường ướt, góp phần duy trì độ bám. Lốp quá mòn làm tăng nguy cơ trượt.
Vì sao nhiều trục bánh xe có ổ bi?
Ổ bi giúp các viên bi lăn giữa những bộ phận, giảm ma sát và mài mòn so với bề mặt trượt trực tiếp trong điều kiện phù hợp. Đây là ứng dụng liên quan ma sát lăn.
Khi cầm vật trơn, vì sao đôi khi dùng găng tay có bề mặt nhám?
Găng có bề mặt phù hợp làm tăng độ bám giữa tay và vật, giúp tránh vật trượt khỏi tay.
Tại sao tra dầu vào bản lề cửa đang kêu?
Chất bôi trơn có thể làm giảm ma sát và mài mòn giữa các bộ phận trượt, giúp cửa chuyển động êm hơn. Không bôi dầu vào đế giày hay bề mặt phanh.
Trong thí nghiệm giả lập, kéo cùng một khối gỗ trượt đều trên hai mặt. Lực kế lần lượt đọc 2 N và 4 N. Nhận xét?
Trong mô hình đơn giản đang trượt đều trên mặt ngang và các lực theo phương ngang cân bằng, mặt thứ hai cho lực cản ma sát lớn hơn. Số liệu 2 N, 4 N là giả định, không phải giá trị cố định của vật liệu.
Dữ liệu lực tại Trạm 01–02 được giả định cho mục đích giáo dục, không phải số đo thực nghiệm, không suy rộng cho mọi vật liệu. Trên điện thoại, vuốt ngang khung hình để xem đầy đủ đồ thị và chú giải.
Đẩy thùng sang phải. Mô hình mặc định có giới hạn ma sát nghỉ 5 N, ma sát trượt 3 N; khi thay đổi giới hạn, mức ma sát trượt cũng đổi theo.
Kéo cùng một khối gỗ trượt đều trên bốn bề mặt giả lập. Xem lực kéo chỉ thị trên lực kế trong một bộ số liệu ví dụ; không khẳng định lực cản của mỗi vật liệu luôn có giá trị này.
Chọn tình huống để xác định loại ma sát tại bề mặt tiếp xúc, sau đó xem hướng lực và tác dụng của nó.
Phần A: 6 nhóm × 6 câu có giải thích. Phần B: 8 câu ABCD, 4 câu Đúng/Sai có 4 ý, 8 câu trả lời ngắn và 2 câu tự luận theo rubric.
8 câu ABCD × 0,25; 4 câu Đúng/Sai tối đa 1 điểm/câu; 8 câu trả lời ngắn × 0,25; 2 câu tự luận × 1 điểm. Phần tự luận cần người dạy đánh giá theo rubric.
Sáu nhánh hệ thống hóa nguồn gốc, hai loại ma sát chủ yếu, tác dụng và ứng dụng an toàn.
Những viên bi lăn giữa các bộ phận có thể làm giảm lực cản và mài mòn, giúp trục quay dễ hơn. Đây là một ứng dụng của chuyển động lăn, được giới thiệu mở rộng.
Rãnh giúp nước thoát khỏi vùng tiếp xúc trên đường ướt. Độ bám không phụ thuộc duy nhất vào rãnh mà còn vào tình trạng lốp, mặt đường và tốc độ.
Để tiến lên mà không bị trượt, chân đạp mặt đất về sau và mặt đất tác dụng ma sát nghỉ lên chân về phía trước. Ma sát không phải lúc nào cũng ngược chiều chuyển động của vật.
Khi hai bề mặt cọ xát, chúng có thể nóng lên. Vì vậy những máy móc chuyển động có thể cần bôi trơn hoặc làm mát. Không tự thử làm nóng vật bằng cọ xát mạnh.