Nhiệt năng làm nóng nước: hữu ích. Nhiệt truyền ra không khí, mặt bếp, bàn... mà không dùng để làm nóng nước: hao phí.
Bài 49 – Năng lượng hao phí
Chương IX · Năng lượng · SGK trang 171–172
Nhận diện năng lượng hữu ích và năng lượng hao phí
Nêu được năng lượng hữu ích là phần phục vụ mục đích sử dụng; năng lượng hao phí là phần không phục vụ mục đích ấy.
Nêu được rằng năng lượng hao phí luôn xuất hiện khi năng lượng chuyển từ dạng này sang dạng khác hoặc truyền từ vật này sang vật khác trong những quá trình thực tế.
Chỉ ra được dạng hao phí thường là nhiệt năng; đôi khi còn có năng lượng âm hoặc ánh sáng tùy mục đích dùng thiết bị.
Phân tích cách đun nước, đèn chiếu sáng, xe đạp và thiết bị điện; đề xuất cách giảm hao phí hợp lí, an toàn.
Bám sát mục tiêu Bài 49, SGK KHTN 6 – Kết nối tri thức, trang 171–172. Chỉ sử dụng tỉ lệ tính toán trong ví dụ minh họa có nêu rõ giả định; không coi là hiệu suất đo của thiết bị thật.
Một nguồn năng lượng – nhiều kết quả khác nhau
I. Năng lượng hữu ích và năng lượng hao phí
Khi dùng năng lượng để thực hiện một mục đích xác định, ta gọi phần năng lượng góp phần đạt mục đích ấy là năng lượng hữu ích; phần truyền hoặc chuyển thành các dạng không phục vụ mục đích ấy là năng lượng hao phí. Cần xác định mục đích sử dụng trước khi phân loại.
Quang năng chiếu sáng nơi cần nhìn: hữu ích. Nhiệt năng tỏa ra môi trường: hao phí đối với mục đích chiếu sáng.
Năng lượng làm xe và người chuyển động theo ý muốn: hữu ích. Nhiệt do ma sát không cần thiết ở ổ trục và tiếng động ngoài ý muốn: hao phí.
Nhiệt năng của luồng khí nóng và năng lượng làm không khí chuyển động có thể đều hữu ích; tiếng ồn không phục vụ việc sấy là hao phí.
II. Năng lượng hao phí thường xuất hiện dưới dạng nhiệt năng
Ma sát giữa các bộ phận chuyển động, điện trở của dây dẫn, sự tỏa nhiệt ra môi trường... thường làm một phần năng lượng được chuyển hóa hoặc truyền đi ngoài mục đích sử dụng. Ngoài nhiệt, tiếng ồn, rung động hoặc ánh sáng không mong muốn cũng có thể là phần hao phí.
Số liệu 100 J → 80 J ánh sáng + 20 J nhiệt lấy từ ví dụ của Bài 49 SGK; không dùng để khẳng định mọi đèn LED đều có tỉ lệ giống nhau.
Đây là cách phân chia năng lượng trong một quá trình xác định khi đã tính đầy đủ các đầu ra. Năng lượng hao phí không tự biến mất mà chuyển thành dạng khác hoặc truyền ra môi trường.
III. Giảm hao phí năng lượng trong đời sống
Dùng thiết bị phù hợp, đậy nắp ấm/nồi khi có thể, chỉ đun lượng nước cần dùng; tránh để nguồn nhiệt thoát ra ngoài không cần thiết.
Ưu tiên đèn LED có công suất và độ sáng phù hợp; tắt đèn khi không cần; tận dụng ánh sáng tự nhiên an toàn.
Giữ bộ phận chuyển động hoạt động tốt, hạn chế ma sát không cần thiết và rung ồn; bảo dưỡng đúng hướng dẫn.
Giảm năng lượng hao phí không phải làm mất năng lượng, mà là tăng phần phục vụ mục đích hoặc giảm năng lượng cần cung cấp cho cùng công việc.
| Thiết bị / mục đích | Năng lượng hữu ích | Hao phí thường gặp |
|---|---|---|
| Đèn để đọc sách | Ánh sáng chiếu vào trang sách | Nhiệt tỏa ra, ánh sáng chiếu sai nơi |
| Ấm để đun nước | Năng lượng làm nước nóng lên | Nhiệt ra không khí và bộ phận không cần đun |
| Quạt làm mát người | Năng lượng tạo luồng không khí mong muốn | Tiếng ồn, nhiệt ở động cơ |
| Xe đạp để di chuyển | Năng lượng làm xe và người chuyển động | Nhiệt do ma sát, tiếng ồn không cần thiết |
Ba trạm thực hành về năng lượng hao phí
Trạm 01 dùng đúng ví dụ LED của SGK. Các con số tự điều chỉnh ở trạm 02 là mô hình giả định để học cách phân chia năng lượng, không phải số đo hiệu suất thật của các loại ấm.
Trạm 01 · Dòng năng lượng của đèn LED
SGK cho biết đèn LED nhận 100 J điện năng và tạo 80 J quang năng cùng 20 J nhiệt năng. Với mục đích chiếu sáng, hãy tìm phần hữu ích và hao phí.
Hãy chọn hai đáp án rồi kiểm tra.
Trạm 02 · Mô hình năng lượng dùng để đun nước
Cho 100 đơn vị năng lượng vào một thiết bị đun nước giả định. Dùng thanh trượt để xem phần năng lượng làm nóng nước và phần truyền ra xung quanh. Mô hình tuân theo bảo toàn năng lượng.
60 + 40 = 100. Điều chỉnh thanh trượt để quan sát.
So sánh bếp củi, bếp than và ấm điện trong SGK: trong tình huống minh họa, ấm điện thường làm ít năng lượng thất thoát hơn. Kết quả thực tế còn phụ thuộc thiết bị, điều kiện sử dụng và lượng nước.
Trạm 03 · Hữu ích hay hao phí? Phụ thuộc mục đích
Đọc mục đích sử dụng, phân loại dạng năng lượng được hỏi rồi kiểm tra. Kết quả có thể xuất thành CSV.
Mục đích: chiếu sáng trang sách. Nhiệt từ đèn tỏa ra không góp phần chiếu sáng.
Chọn phương án rồi kiểm tra.
| Tình huống | Phân loại | Kết quả |
|---|---|---|
| Chưa có kết quả. | ||
36 câu tự luyện · 22 câu kiểm tra/10 điểm
Phần A: 36 câu chia sáu nhóm, có phản hồi và giải thích. Phần B: 8 câu ABCD, 4 câu Đúng/Sai (mỗi câu bốn ý), 8 câu trả lời ngắn, 2 câu tự luận.
Phần A · Luyện phân biệt năng lượng hữu ích và hao phí
Phần B · Kiểm tra cuối bài (10 điểm)
ABCD: 2 điểm; Đúng/Sai: tối đa 4 điểm (theo thang 0,10 / 0,25 / 0,50 / 1 điểm cho 1/2/3/4 ý chính xác); Trả lời ngắn: 2 điểm; Tự luận: 2 điểm (đối chiếu tiêu chí). Không hiện đáp án trước khi nộp bài.
Sơ đồ tư duy: từ mục đích sử dụng đến giải pháp tiết kiệm
Sáu nhánh hệ thống kiến thức Bài 49. Có thể bấm phóng to, tìm từ khóa và dùng trên điện thoại.
Vì sao tiết kiệm năng lượng không có nghĩa “làm mất năng lượng”?
Khi chiếu sáng với mức độ phù hợp, đèn LED thường cần ít điện năng hơn đèn sợi đốt. Nhiệt tỏa ra ở một thiết bị chiếu sáng thường không giúp việc nhìn rõ hơn.
Trong trường hợp thích hợp, đậy nắp làm giảm nhiệt thoát ra môi trường, để phần năng lượng làm nóng nước được sử dụng tốt hơn.
Tiếng loa dùng để phát nhạc là năng lượng âm hữu ích. Tiếng ồn lạch cạch phát sinh ngoài ý muốn ở máy móc có thể là năng lượng hao phí.
Khi phanh, một phần động năng chuyển thành nhiệt tại hệ thống phanh. Năng lượng không mất đi; việc giảm tốc cũng giúp bảo đảm an toàn khi cần dừng.