Thay góc tới – đo góc phản xạ
Gương phẳng nằm ngang; góc được đo từ pháp tuyến tại I. Kéo thanh trượt để theo dõi cả tia tới SI, tia phản xạ IR và số đo hai góc.
Chương V · Ánh sáng · SGK trang 78–81
Quan sát ánh sáng bị hắt trở lại khi gặp gương và một số bề mặt nhẵn, bóng; gọi tên tia tới, tia phản xạ và điểm tới.
Biểu diễn pháp tuyến tại điểm tới; đo góc tới, góc phản xạ từ pháp tuyến, không đo từ mặt gương.
Quan sát và kiểm chứng: tia phản xạ nằm trong mặt phẳng tới; góc phản xạ bằng góc tới.
Phân biệt phản xạ gương – phản xạ khuếch tán, dự đoán hướng chùm tia và điều chỉnh đường đi ánh sáng tới mục tiêu.
Khi tia sáng truyền tới mặt gương rồi bị hắt trở lại môi trường cũ theo hướng khác, ta quan sát được sự phản xạ ánh sáng. Hiện tượng phản xạ cũng xảy ra trên nhiều bề mặt khác, không chỉ ở gương.
| Kí hiệu | Ý nghĩa | Cách xác định |
|---|---|---|
| S I | Tia tới | Chiều từ S đến điểm tới I |
| I R | Tia phản xạ | Chiều từ I đến R |
| I | Điểm tới | Giao điểm của tia tới với gương |
| I N | Pháp tuyến | Đường vuông góc mặt gương tại I |
| i, i' | Góc tới và góc phản xạ | Đo giữa từng tia và pháp tuyến |
Đối với bề mặt phản xạ tại điểm tới, tia phản xạ nằm trong mặt phẳng tới (mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến tại điểm tới). Góc phản xạ bằng góc tới. Hai tia tới và phản xạ nằm về hai phía của pháp tuyến (trừ trường hợp tới vuông góc).
| Đặc điểm | Phản xạ gương | Phản xạ khuếch tán |
|---|---|---|
| Bề mặt | Nhẵn, bóng (xét theo bước sóng ánh sáng) | Gồ ghề, không nhẵn |
| Chùm phản xạ | Các tia vẫn song song khi tia tới song song và bề mặt phẳng | Các tia phản xạ theo nhiều hướng |
| Hình ảnh | Có thể quan sát ảnh rõ | Thông thường không tạo ảnh rõ như gương phẳng |
| Định luật | Tuân theo tại mỗi điểm | Vẫn tuân theo tại từng điểm, theo pháp tuyến địa phương |
An toàn: Nếu dùng laser hoặc nguồn sáng mạnh để khảo sát, tuyệt đối không chiếu vào mắt, người hoặc gương có thể hắt sáng vào mắt. Ưu tiên hộp tia sáng học đường và bề mặt chắn an toàn.
Quan sát hình vẽ thay đổi theo thao tác; các tia vẽ là mô hình hình học lí tưởng trong một mặt phẳng, không phải ảnh chụp thí nghiệm.
Gương phẳng nằm ngang; góc được đo từ pháp tuyến tại I. Kéo thanh trượt để theo dõi cả tia tới SI, tia phản xạ IR và số đo hai góc.
Một nguồn S và mục tiêu T cố định. Điều chỉnh vị trí I: tia SI đổi hướng theo I; tia IR tự thay đổi theo định luật phản xạ. Hãy tìm vị trí để tia phản xạ đi qua mục tiêu.
Nguồn và mục tiêu cố định; chỉ hướng chiếu tia tới thay đổi để tia chạm gương tại điểm I. Đây không phải thao tác di chuyển toàn bộ gương trong không gian.
Cùng một chùm tia tới song song, thay đổi đặc tính bề mặt để so sánh hướng tia phản xạ. Các pháp tuyến cục bộ được vẽ bằng nét đứt.
Hướng lệch của các tia là minh họa định tính, không dùng để tính hệ số phản xạ hay độ nhám thực tế. Tại mỗi điểm, pháp tuyến riêng vẫn quyết định góc phản xạ.
Học sinh tự luyện có phản hồi sau khi chọn, lưu tiến độ riêng cho Bài 16; phần kiểm tra chỉ xem đáp án sau khi nộp. Hai câu tự luận tự đối chiếu theo tiêu chí.
8 câu ABCD: 2 điểm · 4 câu Đúng/Sai (4 ý/câu): 4 điểm · 8 câu trả lời ngắn: 2 điểm · 2 câu tự luận: 2 điểm. Tổng 10 điểm.
Sơ đồ tự động hiển thị; trên màn hình hẹp có thể vuốt ngang.
Giấy không tự phát sáng nhưng phản xạ khuếch tán ánh sáng từ đèn hoặc Mặt Trời tới mắt, giúp ta nhìn và đọc ở nhiều vị trí.
Mặt gương nhẵn giúp các tia có trật tự theo định luật phản xạ, vì vậy thường quan sát được hình ảnh rõ hơn trên giấy nhám.
Bề mặt kim loại sáng bóng có thể phản xạ ánh sáng mạnh vào mắt. Trong lớp học, nên chọn vị trí đèn và bảng phù hợp để tránh lóa.
Nước phẳng lặng tạo hình phản chiếu, nước gợn làm hình méo do các vị trí bề mặt nghiêng khác nhau.
Tham khảo: SGK và SGV Khoa học tự nhiên 7 – Kết nối tri thức với cuộc sống, Bài 16, trang 78–81. Câu hỏi, mô phỏng và ví dụ được biên soạn riêng.