Thay vị trí và chiều cao của vật AB
Gương đặt thẳng đứng. Thay đổi khoảng cách và chiều cao của vật, so sánh với ảnh A′B′ phía sau gương.
Chương V · Ánh sáng · SGK trang 82–85
Nêu được ảnh của vật trong gương phẳng; giải thích vì sao ảnh nhìn thấy được nhưng không hứng được trên màn.
Nhận biết kích thước ảnh bằng vật, khoảng cách từ ảnh tới gương bằng khoảng cách từ vật tới gương.
Dựng ảnh của điểm S và đoạn thẳng AB bằng đối xứng qua mặt gương; vẽ đường nối vuông góc với gương.
Dựng tia phản xạ truyền tới mắt; phân biệt tia phản xạ thật với đường kéo dài đi qua vị trí ảnh ảo phía sau gương.
Khi nhìn vào gương phẳng, ta thấy hình của vật như ở phía sau gương. Hình đó là ảnh của vật qua gương phẳng. Ảnh là ảnh ảo vì các tia phản xạ thực tế không đi qua vị trí ảnh ở phía sau gương nên không thể hứng ảnh trực tiếp trên màn chắn đặt tại vị trí ấy.
| Tính chất | Kết luận | Cách kiểm tra |
|---|---|---|
| Loại ảnh | Ảnh ảo, không hứng được trên màn | Thử dùng màn chắn ở vị trí ảnh dự đoán |
| Kích thước | A′B′ = AB | So chiều cao của hai cây nến giống nhau qua kính phẳng |
| Khoảng cách | dảnh–gương = dvật–gương | Đo theo phương vuông góc với gương |
| Đối xứng | Gương là mặt phẳng trung trực của AA′, BB′ | Nối A–A′ và B–B′ vuông góc gương, chia đôi ở gương |
Cách 1 – Dựng bằng đối xứng: Từ mỗi điểm của vật, kẻ đường vuông góc tới gương và lấy điểm ảnh ở phía sau gương có khoảng cách đến gương bằng điểm vật. Với đoạn AB, dựng A′ và B′ rồi nối A′B′.
Cách 2 – Dựng bằng tia phản xạ: Chọn hai tia tới từ điểm S đến các điểm khác nhau trên gương; áp dụng định luật phản xạ để dựng tia đi tới phía người quan sát. Kéo dài nét đứt các tia phản xạ ra phía sau gương; các đường kéo dài gặp nhau ở S′.
Gương trong phòng tắm, ảnh phản chiếu trên mặt nước phẳng và cách viết chữ ở phía trước xe cứu thương đều liên quan tới tính chất tạo ảnh và đối xứng của gương phẳng. Gương không tự tạo thêm năng lượng ánh sáng.
Kéo các thanh điều khiển để tự kiểm tra dự đoán. Sơ đồ SVG dựng theo hình học phẳng, có thể xuất tệp để đưa vào bài tập hoặc giáo án.
Gương đặt thẳng đứng. Thay đổi khoảng cách và chiều cao của vật, so sánh với ảnh A′B′ phía sau gương.
Điều chỉnh vị trí quan sát để thấy các tia phản xạ tới mắt. Nét đứt phía sau gương là đường kéo dài, không phải tia sáng thật.
Tưởng tượng dùng tấm kính mỏng thay cho gương. Nến A đặt trước kính cách kính 5 cm, cao 4 cm. Hãy điều chỉnh nến B phía sau kính sao cho trùng với ảnh của A khi quan sát qua kính.
Dự đoán vị trí nến B, sau đó nhấn Kiểm tra.
Mô hình kiểm chứng vị trí và kích thước ảnh nhờ tấm kính bán phản xạ, không có nghĩa ảnh ảo có thể hứng lên màn chắn.
Học sinh tự luyện theo sáu nhóm, nhận giải thích sau khi kiểm tra và lưu tiến độ riêng cho Bài 17. Phần kiểm tra chỉ hiển thị đáp án sau khi nộp; hai câu tự luận tự đối chiếu theo tiêu chí.
8 câu ABCD: 2 điểm · 4 câu Đúng/Sai (4 ý/câu): 4 điểm · 8 câu trả lời ngắn: 2 điểm · 2 câu tự luận: 2 điểm. Tổng 10 điểm.
Có thể vuốt ngang để xem đầy đủ sơ đồ trên màn hình hẹp.
Dòng chữ ở đầu xe thường được viết đảo gương để người phía trước nhìn qua gương chiếu hậu có thể đọc đúng chiều.
Để nhìn toàn thân trong gương phẳng lí tưởng, chiều cao tối thiểu của gương xấp xỉ một nửa chiều cao người, khi bố trí phù hợp vị trí mắt.
Mặt nước phẳng lặng có thể cho ảnh phản chiếu khá rõ; khi có sóng, pháp tuyến cục bộ thay đổi nên ảnh bị biến dạng.
Hai gương phẳng đặt nghiêng có thể đổi hướng đường truyền ánh sáng, giúp quan sát vật bị che khuất bởi vật cản.
Tham khảo: SGK, SGV Khoa học tự nhiên 7 – Kết nối tri thức với cuộc sống, Bài 17, trang 82–85. Câu hỏi, ví dụ và các mô phỏng biên soạn riêng.