Bài 19 – Đòn bẩy và ứng dụng
Chương IV · Tác dụng làm quay của lực · SGK trang 79–83
Vì sao một người có thể dùng thanh đòn nâng vật nặng?
Xác định đúng điểm tựa O, vị trí đặt lực tác dụng và vị trí của vật cần nâng trên hình vẽ hoặc dụng cụ thật.
Phân biệt đòn bẩy loại 1 với loại 2; nhận ra khi nào được lợi về lực và khi nào được lợi về đường đi của vật.
Thay đổi vị trí điểm tựa và chỗ tác dụng lực trên thanh đòn; quan sát lực cần thiết trong mô hình cân bằng lí tưởng.
Phân tích bập bênh, xà beng, xe cút kít, cần câu, cánh tay và một số bộ phận của xe đạp; lựa chọn tư thế vận động hợp lí.
Đòn bẩy – các loại – ứng dụng trong đời sống
I. Tác dụng của đòn bẩy
Đòn bẩy là vật cứng có thể quay quanh điểm tựa O (trục quay). Ta xác định ba vị trí quan trọng: O là điểm tựa; A là vị trí lực ta tác dụng (lực phát động); B là vị trí vật cần nâng hoặc lực cản.
II. Hai loại đòn bẩy theo cách phân loại trong SGK
Ba vị trí theo thứ tự A – O – B (hoặc B – O – A). Ví dụ: bập bênh, kéo, xà beng nhổ đinh. Có thể đổi hướng lực. Có lợi về lực hay không phụ thuộc vào độ dài cánh tay đòn.
Có hai cách bố trí: O – B – A (lực phát động đặt xa O hơn, thường lợi về lực: xe cút kít); hoặc O – A – B (lực phát động đặt gần O hơn, thường lợi về đường đi của vật: cần câu, nhíp). Đây là hai trường hợp của loại 2 trong cách phân loại SGK.
III. Đòn bẩy không luôn cho lợi về lực
Cần câu và nhíp có điểm đặt lực phát động gần điểm tựa hơn điểm chịu lực cản. Do đó lực phát động có thể lớn hơn lực cản, bù lại đầu cần/nhíp có thể chuyển động nhanh hoặc đi xa hơn khi tay di chuyển một quãng nhỏ. Đòn bẩy không tự làm tăng công cơ học trong mô hình lí tưởng.
IV. Ứng dụng vào cơ thể và xe đạp
Cẳng tay người quay quanh khớp khuỷu: cơ nhị đầu tác dụng lực tương đối gần khớp, còn vật đặt ở bàn tay xa khớp. Cách bố trí này ưu tiên tốc độ và tầm chuyển động hơn là lợi về lực. Khi mang vật nặng, giữ vật gần người có thể giảm tác dụng làm quay gây mỏi cơ; nên duy trì tư thế cổ và lưng phù hợp.
Trên xe đạp, tay phanh và tay quay gắn pê-đan là ví dụ về các bộ phận có tác dụng đòn bẩy. Khi bàn chân đạp, chiều lực so với tay quay ảnh hưởng đến moment làm trục giữa quay; xích truyền chuyển động tới bánh sau.
Ba trạm khám phá đòn bẩy bằng mô hình SVG
Mô phỏng sử dụng thanh nhẹ, trục quay không ma sát, lực vuông góc với thanh và cân bằng về moment. Đồ họa thể hiện vị trí và độ lớn tương đối; không mô phỏng chuyển động động lực học thực hoặc tính hiệu suất.
Lợi về lực hay lợi về quãng đường?
Vì sao đưa vật nặng sát người giúp giảm mỏi?
36 câu tự luyện · 22 câu kiểm tra/10 điểm
36 câu tự luyện thuộc sáu chủ đề riêng của Bài 19. Lời giải tự luyện chỉ hiện khi kiểm tra hoặc chủ động xem; đáp án đề 22 câu chỉ xuất hiện sau khi nộp.
Phần A · Tự luyện: Đòn bẩy và ứng dụng
Phần B · Kiểm tra cuối bài
8 ABCD = 2 điểm · 4 Đúng/Sai = 4 điểm · 8 trả lời ngắn = 2 điểm · 2 tự luận = 2 điểm. Tổng 10 điểm.
Chọn cách bố trí đòn bẩy phù hợp
Chạm các nhánh để tổng hợp tác dụng, loại đòn bẩy và ứng dụng.
Đòn bẩy có mặt ở cả dụng cụ và cơ thể
Trục bánh là điểm tựa; hàng nặng thường nằm giữa trục và tay nâng. Tay nâng dài giúp giảm lực cần dùng trong mô hình lí tưởng.
Một tay làm điểm tựa, tay còn lại tác dụng lực gần điểm tựa, cá ở đầu cần rất xa; cho lợi về đường đi/tốc độ của đầu cần chứ không lợi về lực.
Khớp khuỷu là điểm tựa; cơ nhị đầu bám gần khớp, còn vật cầm xa hơn. Giữ vật nặng gần thân giúp giảm moment tải trong những tư thế phù hợp.
Tay phanh dùng đòn bẩy để tác dụng lên dây phanh hoặc cơ cấu phanh; pê-đan gắn với tay quay để tạo moment lên trục giữa xe đạp.