Quan sát dây điện trở nóng lên
Không định lượng nhiệt độ bằng công thức của lớp trên; không làm cháy giấy hay nung dây điện bằng điện lưới.
Chương V · Điện · SGK trang 95–98
Nhận biết vật dẫn nóng lên khi có dòng điện và kể được những thiết bị ứng dụng.
Quan sát đèn LED; giải thích vì sao LED chỉ sáng khi được mắc đúng chiều với nguồn một chiều.
Mô tả thí nghiệm với dung dịch copper(II) sulfate và sự xuất hiện lớp đồng tại điện cực âm.
Nêu được nguy cơ điện giật; lựa chọn hành vi an toàn khi gặp nguồn điện hoặc dây điện rơi.
Khi có dòng điện chạy qua, vật dẫn có thể nóng lên. Thí nghiệm trong SGK dùng nguồn điện thấp và sợi dây dẫn mảnh; quan sát vật đặt gần dây dẫn để nhận biết tác dụng tỏa nhiệt.
Ví dụ: bàn là điện, nồi cơm điện, bếp điện, ấm đun nước. Không phải tác dụng nhiệt lúc nào cũng có ích: mối nối lỏng hoặc dây dẫn quá tải có thể nóng nguy hiểm.
Một số thiết bị phát ánh sáng khi có dòng điện phù hợp, ví dụ đèn LED. Đèn LED là điốt phát quang, thông thường chỉ cho dòng điện đi qua theo một chiều xác định.
Trong mạch minh họa SGK, LED được mắc nối tiếp với điện trở hạn dòng. Khi mắc LED ngược chiều với nguồn một chiều và các điều kiện khác giữ nguyên, đèn không sáng. Đèn sợi đốt cũng phát sáng nhưng sử dụng sự nung nóng dây tóc; không nên đồng nhất mọi cách phát sáng.
Trong thí nghiệm điện phân dung dịch copper(II) sulfate – CuSO₄ với hai điện cực than chì, sau khi đóng mạch một thời gian có thể quan sát lớp kim loại đồng màu đỏ nâu bám lên điện cực nối với cực âm nguồn.
Đó là biểu hiện của tác dụng hóa học của dòng điện. Một ứng dụng là mạ điện. Sự mô phỏng chỉ biểu diễn khu vực bám đồng; trong thực tế kết quả phụ thuộc dung dịch, điện cực và điều kiện thí nghiệm.
Dòng điện qua cơ thể có thể ảnh hưởng hoạt động của cơ, thần kinh và tim; gây chấn thương nghiêm trọng, thậm chí tử vong. Độ nguy hiểm phụ thuộc nhiều yếu tố; không thử cảm giác điện giật và không tiếp xúc dây điện rơi, ngay cả khi tưởng rằng điện đã ngắt.
Trong y khoa có thiết bị điện chuyên dụng (ví dụ máy khử rung tim) do người được huấn luyện sử dụng; không xem đây là thiết bị thí nghiệm học sinh.
Mô hình SVG tương tác được lập trình cho học sinh quan sát định tính; mức sáng, mức nóng, tốc độ bám đồng đều không phải số đo thực nghiệm. Không sao chép thí nghiệm bằng điện lưới.
Không định lượng nhiệt độ bằng công thức của lớp trên; không làm cháy giấy hay nung dây điện bằng điện lưới.
Mạch LED phải có điện trở hạn dòng và nguồn phù hợp. Không nối trực tiếp LED vào nguồn điện áp tùy ý.
Thí nghiệm thực hành chỉ do giáo viên tổ chức trong phòng thí nghiệm với bảo hộ phù hợp; không tự xử lí dung dịch CuSO₄ tại nhà.
36 câu tự luyện thuộc sáu nhóm kiến thức riêng của Bài 23. Lời giải chỉ hiển thị sau khi kiểm tra; đáp án phần kiểm tra cuối bài chỉ hiện sau khi nộp.
8 ABCD = 2 điểm · 4 Đúng/Sai = 4 điểm · 8 trả lời ngắn = 2 điểm · 2 tự luận = 2 điểm. Tổng 10 điểm.
Chạm vào các nhánh để hệ thống hóa hiện tượng – thí nghiệm – ứng dụng – an toàn.
Với cùng nhu cầu chiếu sáng, nhiều đèn LED tiêu thụ ít điện năng hơn đèn sợi đốt và ít phát nhiệt hơn; tuy nhiên LED vẫn tỏa nhiệt, nhất là ở bộ nguồn và linh kiện.
Dòng điện giúp hình thành lớp kim loại trên một bề mặt; ứng dụng trang trí và chống ăn mòn. Cần kỹ thuật và xử lí hóa chất an toàn.
Không thể nhìn thấy trực tiếp dòng điện trong dây. Ta nhận biết qua tác dụng ở những điều kiện thích hợp: nóng, sáng, biến đổi hóa học, tác dụng sinh lí.
Không thao tác điện khi tay ướt; không cắm quá tải; không tự sửa điện lưới. Nếu phát hiện nguy hiểm, báo người lớn và đơn vị có trách nhiệm.
Gặp dây điện đứt sau giông, em lựa chọn: