Phân tử chuyển động hỗn loạn và hạt Brown
Các chấm nhỏ biểu diễn phân tử nước; chấm cam lớn là hạt phấn hoa. Tốc độ trên hình được phóng đại và chỉ mang tính tương đối; không tỉ lệ với vận tốc thực của phân tử.
Chương VI · Nhiệt · SGK trang 105–108
Nhận biết nguyên tử, phân tử luôn chuyển động hỗn loạn; nhiệt độ càng cao, chuyển động nhiệt càng mạnh; giải thích hiện tượng Brown.
Nêu được nhiệt năng là năng lượng của vật do chuyển động nhiệt của các hạt, mọi vật đều có nhiệt năng.
Phân biệt động năng với thế năng tương tác của các phân tử, nguyên tử; hiểu nội năng gồm cả hai.
Giải thích trường hợp vật nóng lên/lạnh đi, cọ xát làm nóng hai tay và năng lượng nước nhận được khi đang sôi.
Chất được cấu tạo từ các phân tử, nguyên tử. Các hạt này chuyển động hỗn loạn không ngừng và giữa chúng có lực tương tác hút, đẩy. Khi nhiệt độ của cùng một vật tăng, chuyển động nhiệt của các hạt mạnh hơn.
Chuyển động nhiệt là chuyển động hỗn loạn của các nguyên tử, phân tử tạo nên vật. Năng lượng nhiệt là năng lượng mà vật có được nhờ chuyển động nhiệt ấy. Do các hạt không ngừng chuyển động, mọi vật đều có nhiệt năng.
Ví dụ: xoa hai tay làm tay nóng lên là do cơ năng chuyển hóa thành nội năng; đặt tay gần nguồn nóng thì tay nhận năng lượng do truyền nhiệt. Hai cách làm nóng không hoàn toàn giống nhau.
Động năng vi mô do chuyển động của các hạt; thế năng vi mô do tương tác giữa các hạt. Nhiệt năng trong cách gọi của bài học gắn với chuyển động nhiệt; nội năng còn tính cả phần thế năng tương tác. Không đồng nhất hai khái niệm trong mọi hiện tượng.
Nhúng quả cầu kim loại nguội vào nước nóng: nhiệt truyền từ nước nóng sang quả cầu lạnh hơn. Nhiệt độ và động năng phân tử nước giảm, trong khi các hạt ở quả cầu chuyển động mạnh hơn; nội năng quả cầu tăng. Khi đạt cân bằng nhiệt, hai vật có cùng nhiệt độ (nếu hệ đủ thời gian cân bằng).
Khi đun nước đến nhiệt độ sôi ở áp suất khí quyển không đổi, nước vẫn nhận năng lượng nhưng nhiệt độ của phần nước đang sôi gần như không đổi; năng lượng chủ yếu dùng cho quá trình hóa hơi và làm thay đổi tương tác giữa các phân tử. Vì thế nội năng vẫn có thể tăng khi nhiệt độ không tăng trong chuyển thể.
| Đại lượng / quá trình | Nói đúng | Tránh nhầm |
|---|---|---|
| Nhiệt độ | Gắn với mức độ chuyển động nhiệt của các hạt. | Không phải tổng năng lượng mọi phân tử. |
| Nhiệt năng | Năng lượng do chuyển động nhiệt. | Không phải “nhiệt lượng chứa sẵn” trong vật. |
| Nội năng | Tổng động năng và thế năng vi mô. | Không luôn tăng chỉ khi nhiệt độ tăng. |
| Truyền nhiệt | Năng lượng chuyển từ vật nóng sang vật lạnh. | Không phải hạt nước từ cốc nóng đi sang quả cầu. |
Các trạng thái mô phỏng mang tính minh họa; số liệu nhiệt ở trạm 2–3 được tính từ những giả thiết nêu rõ, không phải kết quả đo trực tiếp.
Các chấm nhỏ biểu diễn phân tử nước; chấm cam lớn là hạt phấn hoa. Tốc độ trên hình được phóng đại và chỉ mang tính tương đối; không tỉ lệ với vận tốc thực của phân tử.
Mô hình mở rộng: hệ cách nhiệt, nước không bay hơi, nhiệt dung riêng không đổi; cnước = 4200 J/(kg·K), ckim loại = 450 J/(kg·K); diễn tiến theo hàm mũ minh họa với hằng số thời gian 60 s. Đây không phải tốc độ truyền nhiệt đo được.
Giả thiết minh họa: nước tinh khiết 0,5 kg, ban đầu 25 °C, áp suất gần 1 atm, hệ nhận công suất nhiệt 525 W không thất thoát; nước bắt đầu sôi ở phút thứ 5. Trong giai đoạn khảo sát (đến phút 12), nước chưa bay hơi hết. Phần tính lượng hóa hơi là nội dung mở rộng, không yêu cầu học sinh ghi nhớ.
Sáu nhóm: cấu tạo hạt; chuyển động Brown; nhiệt năng; nội năng; trao đổi nhiệt; nước sôi và ứng dụng. Tự luyện chỉ hiện lời giải sau thao tác; đề kiểm tra hiển thị đáp án sau khi nộp.
Chạm vào từng nhánh để ôn lại nguồn gốc vi mô, hiện tượng Brown, nhiệt năng và quá trình thay đổi nội năng.
Năm 1827, Brown quan sát các hạt nhỏ trong chất lỏng chuyển động không ngừng, khó đoán hướng. Về sau người ta giải thích do va chạm bất quy tắc của các phân tử chất lỏng.
Phân tử nước hoa và không khí liên tục va chạm, đổi hướng. Tốc độ lan truyền mùi trên quy mô lớp học không bằng vận tốc chuyển động tức thời của từng phân tử.
Cơ năng do chuyển động của bàn tay chuyển thành nội năng; phần nhiệt độ tăng làm các phân tử trong da chuyển động mạnh hơn. Không phải mọi sự tăng nội năng đều chỉ do đặt gần vật nóng.
Ở áp suất thường, nước đang sôi có nhiệt độ gần 100 °C; năng lượng tiếp tục cung cấp chủ yếu dành cho quá trình hóa hơi, không làm nhiệt độ tăng mãi.
Đối chiếu nội dung: SGK Khoa học tự nhiên 8 – Kết nối tri thức, Bài 26, trang 105–108. Mô phỏng SVG là mô hình giáo dục và được ghi rõ giả thiết.