Chuyển động Brown
Năm 1827, Robert Brown quan sát sự chuyển động hỗn loạn của hạt rất nhỏ trong chất lỏng. Phân tích sau này khẳng định chuyển động Brown là bằng chứng cho chuyển động phân tử.
Mô hình động học phân tử · Rắn, lỏng, khí · Chuyển động Brown · Chuyển thể
Nêu được các luận điểm của mô hình động học phân tử; so sánh cấu trúc và chuyển động của hạt ở thể rắn, lỏng, khí; giải thích chuyển động Brown và các quá trình chuyển thể.
Phân biệt bay hơi với sôi; đọc giai đoạn tăng nhiệt độ và đoạn nằm ngang trên đồ thị đun nóng; giải thích ứng dụng trong đời sống: vòng tuần hoàn nước, làm lạnh do bay hơi và đúc kim loại.
(1) Chất gồm các hạt rất nhỏ, giữa các hạt có khoảng cách. (2) Các hạt chuyển động nhiệt hỗn loạn, không ngừng; khi nhiệt độ tăng, chuyển động nhiệt nhìn chung mạnh hơn. (3) Giữa các hạt tồn tại lực hút và lực đẩy (gọi chung là lực tương tác phân tử). Thuật ngữ “phân tử” trong mô hình phổ thông có thể đại diện cho nguyên tử, phân tử hoặc ion.
Hạt phấn hoa quan sát dưới kính hiển vi không phải là một phân tử nước. Nó đổi hướng liên tục do nhận các va chạm vi mô từ những phân tử nước đang chuyển động hỗn loạn.
Sơ đồ mô hình do bài học dựng, không biểu diễn đúng tỉ lệ kích thước hoặc khoảng cách thật.
| Đặc điểm | Rắn | Lỏng | Khí |
|---|---|---|---|
| Sắp xếp hạt | Rất gần; thường có trật tự trong tinh thể | Gần; kém trật tự | Xa, chuyển động khắp bình |
| Chuyển động | Chủ yếu dao động quanh vị trí cân bằng | Vừa dao động vừa đổi vị trí tương đối | Hỗn loạn gần như tự do giữa các va chạm |
| Hình dạng | Riêng | Theo bình chứa | Theo bình chứa |
| Thể tích | Gần như riêng | Gần như riêng | Chiếm toàn bộ bình |
| Khả năng nén | Rất khó | Khó | Dễ hơn nhiều |
Quá trình từ rắn sang lỏng, lỏng sang khí, rắn sang khí thường cần nhận năng lượng; những quá trình ngược lại thường giải phóng năng lượng. Năng lượng trao đổi khi đổi thể không nhất thiết làm nhiệt độ tăng.
| Tiêu chí | Bay hơi | Sôi |
|---|---|---|
| Vị trí xảy ra | Chỉ trên mặt thoáng | Trên mặt thoáng và trong lòng chất lỏng |
| Điều kiện | Có thể xảy ra ở nhiều nhiệt độ | Khi đạt điều kiện sôi ứng với áp suất ngoài |
| Dấu hiệu | Mất dần chất lỏng, không nhất thiết có bọt | Bọt hơi hình thành và lớn lên trong chất lỏng |
| Ví dụ | Quần áo phơi khô | Nước đang sôi trong ấm |
Đoạn tăng: nước lỏng nóng lên; đoạn nằm ngang: đang sôi, năng lượng chủ yếu phục vụ chuyển thể. Khi áp suất thay đổi, nhiệt độ sôi có thể thay đổi.
Giữa các phân tử khí có khoảng cách trung bình lớn hơn nhiều; khi nén, khoảng cách giảm rõ rệt. Ở chất lỏng các phân tử vốn ở rất gần nhau nên khó nén.
Các phân tử nước va chạm không cân bằng lên hạt phấn hoa, đổi hướng lực tổng hợp liên tục khiến hạt dao động hỗn loạn.
Một số phân tử gần mặt nước đủ năng lượng thoát ra: bay hơi, không cần đến nhiệt độ sôi.
Mồ hôi nhận năng lượng để bay hơi từ da và môi trường, làm nhiệt lượng của vùng da giảm, gây cảm giác mát.
Ở áp suất không đổi và khi nước tinh khiết đang sôi, năng lượng nhận chủ yếu dùng cho hóa hơi chứ không tăng nhiệt độ.
Hơi nước trong không khí tiếp xúc bề mặt lạnh, lạnh đi và ngưng tụ thành giọt. Nước ấy không thấm từ trong cốc ra.
Ở áp suất khí quyển bình thường, hỗn hợp nước đá tinh khiết đang nóng chảy dùng năng lượng để phá vỡ một phần trật tự liên kết của cấu trúc rắn.
Hơi nước chuyển trực tiếp thành tinh thể băng mà không qua lỏng: ngưng kết (nghịch thăng hoa), trong điều kiện thích hợp.
1. Hạt trong chất rắn có đứng yên hoàn toàn không? 2. Vì sao cùng là nước mà băng, nước lỏng, hơi nước có hình dạng khác nhau? 3. Vì sao nước bay hơi dù nhiệt độ chưa đạt 100 °C?
Chọn thể chất và chỉnh mức chuyển động nhiệt tương đối; theo dõi hình dạng quỹ đạo các hạt. Bộ điều chỉnh mức chuyển động không tự quyết định pha, vì chuyển thể còn phụ thuộc chất và áp suất.
Mô hình 2D có quy ước minh họa: không dùng để đo tốc độ phân tử, không biểu diễn chính xác kích thước hay khoảng cách tuyệt đối.
Chọn quá trình rồi dự đoán: trạng thái đầu, trạng thái cuối và chiều trao đổi nhiệt trong điều kiện thông thường.
—
Hạt phấn hoa lớn hơn phân tử nước rất nhiều; đường đi ngoằn ngoèo là hệ quả các va chạm phân tử không cân bằng. Thanh trượt là mức hoạt động mô hình, không phải nhiệt kế.
Mô phỏng xác suất chỉ thể hiện nguyên lí; không suy ra hệ số khuếch tán hoặc mối liên hệ định lượng với nhiệt độ từ hình này.
Bài tập chủ yếu định tính; nhập tên thể/chuyển thể hoặc số đếm theo hướng dẫn từng câu. Xem lời giải sau khi thử trả lời. Câu trả lời có thể gõ không dấu; chức năng lưu tiến độ hoạt động trên cùng trình duyệt.
8 câu ABCD (2,0 điểm), 4 câu Đúng/Sai bốn ý (4,0 điểm; chấm theo số ý đúng), 8 câu trả lời ngắn (2,0 điểm), 2 câu tự luận (2,0 điểm đánh giá theo rubric). Hệ thống không hiển thị đáp án trước khi nộp.
Liên hệ mô hình động học phân tử với các tính chất vĩ mô của ba thể và sự trao đổi năng lượng khi chuyển thể.
Năm 1827, Robert Brown quan sát sự chuyển động hỗn loạn của hạt rất nhỏ trong chất lỏng. Phân tích sau này khẳng định chuyển động Brown là bằng chứng cho chuyển động phân tử.
Nước mặt hồ bay hơi, hơi nước có thể ngưng tụ thành mây và tạo mưa hoặc đóng băng trong điều kiện thích hợp. Sự chuyển thể tham gia điều hòa năng lượng trong môi trường.
Kim loại được nung chảy, đưa vào khuôn rồi đông đặc tạo sản phẩm; mồ hôi bay hơi hấp thụ năng lượng giúp làm mát da. Khi thao tác với chất nóng chảy phải có bảo hộ phù hợp.
Tham khảo đối chiếu: SGK Vật lí 12 Kết nối tri thức, Bài 1, trang 6–9; nội dung và hình minh họa ở đây do HAT biên soạn lại để phục vụ học tập.